Tin tức

Người đầu tiên chế tạo thành công máy in cuốn Flexo

Lần đầu tiên người VN thiết kế, chế tạo thành công máy in cuốn công nghệ Flexo dùng cho ngành in, sản xuất giấy vở học sinh, bao bì. Chủ nhân của chiếc máy in này là kỹ sư Nguyễn Quốc Hòa – Giám đốc Công ty Cơ khí Quốc Hòa (Thái Bình). Công trình của anh đã giành giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ VN năm 2005.

Tại VN, ngành giấy vở vẫn chủ yếu sử dụng các máy kẻ dòng bán thủ công lạc hậu. Trước đây, đã có một vài máy in cuốn được nhập dưới dạng viện trợ nhưng vì nhiều lý do chúng hoạt động không thường xuyên. Gần đây một số doanh nghiệp nhập máy in cuốn nhưng với giá rất cao 2,5 tỷ đồng với máy qua sử dụng và hơn 14 tỷ đồng nếu là máy mới.
Khi cơ chế mới mở ra, Nguyễn Quốc Hòa thành lập xí nghiệp sản xuất giấy vở. Đầu năm 2000, Quốc Hòa đã thiết kế chế tạo ra máy cắt kẻ tự động liên hoàn, kẻ – cắt tờ trực tiếp trên cuộn giấy. Chiếc máy của Hòa được ví như cuộc cách mạng của ngành sản xuất giấy vở nước ta, vì chưa có nhà máy cơ khí ngành in nào tại VN chế tạo thành công máy cắt cuộn mà hoàn toàn phải mua của nước ngoài. Loại máy này đã nhanh chóng được các nhà sản xuất giấy vở trong nước sử dụng. Nhưng chiếc máy này vẫn bộc lộ nhiều nhược điểm.

9DSC04387

Một điều không may ập đến, cũng chính năm 2000, xí nghiệp của Hòa bị thua lỗ, toàn bộ tiền bạc và nhà cửa Hòa phải dồn trả ngân hàng mà chưa hết nợ. Nguyễn Quốc Hòa lại bắt đầu “làm lại cuộc đời” từ việc lập tổ cơ khí hàn chuồng gà, chuồng vịt, dậu sắt, cánh cổng… Có điều, ngay cả những lúc bi kịch nhất, trong đầu Hòa cũng không rời hình ảnh chiếc máy in cuốn tự động.

Năm 2002, Nguyễn Quốc Hòa, trong điều kiện vẫn còn hết sức khó khăn về vốn đã mạnh dạn đầu tư nghiên cứu thiết kế và chế tạo máy in cuốn tự động đầu tiên tại Việt Nam sử dụng công nghệ in Flexo – một công nghệ đang được dùng rộng rãi để in các chủng loại sản phẩm có số lượng xuất bản rất lớn như vở viết, sổ tay, nhãn hàng hóa, phong bì, các loại hộp…
Hầu như đêm nào Hòa cũng âm thầm, lặng lẽ làm việc từ 1 đến 4 giờ sáng trên máy vi tính. Sau hơn một năm nghiên cứu, đến năm 2003 Nguyễn Quốc Hòa đã chế tạo thành công chiếc máy in cuốn.
Tuy vậy, ba chiếc máy đầu tiên, bán rồi phải nhận lại vì chạy thử thì tốt nhưng vận hành sản xuất liên tục thì vẫn còn những vấn đề kỹ thuật cần giải quyết tiếp. Phải đến tháng 4-2004, những chiếc máy in cuốn đủ tiêu chuẩn kỹ thuật mới lần đầu tiên được thiết kế và chế tạo ở VN.

Đây là máy in cuốn nhưng lại thay đổi được các lô bản, từ đó thay đổi kích thước của tờ in. Điều này cho phép trên một máy cuốn vẫn có thể in ra các loại sản phẩm khác nhau. Việc tháo lắp thay đổi ống bản rất đơn giản thuận tiện.
Giá bán máy in cuốn Quốc Hòa chỉ bằng 1/3 giá thành của máy nhập khẩu từ Trung Quốc và chỉ bằng 1/2 giá thành của máy in offset (đã qua sử dụng) cùng kích thước tờ in. Tỷ lệ của phụ tùng ngoại được lắp trên máy chỉ chiếm khoảng 10%.

Qua thực tế sản xuất tại các đơn vị sử dụng máy in cuốn Quốc Hòa thì cứ 1 tấn giấy đã tiết kiệm được 600.000 đồng chi phí cho nguyên liệu giấy, nhân công, điện, mực in… Trung bình mỗi năm chỉ riêng ngành sản xuất giấy vở học sinh đã sử dụng hết khoảng 40.000 tấn giấy cho in giấy vở học sinh thì ít nhất cũng đã tiết kiệm được vài chục tỷ đồng. Nếu tính cả nhiều ngành khác cũng sử dụng máy in cuốn như bao bì, in biểu mẫu, nhãn mác… thì con số tiết kiệm được sẽ lớn hơn nhiều.

Theo Tiền phong

Ông tổ ngành in ấn ván gỗ

Nhờ hai lần đi sứ sang Trung Quốc, ông đã học được nghề in ấn mộc bản ở đây. Khi về nước, ông đã truyền bá nghề này cho nhân dân hai làng Liễu Tràng, Hồng Lục ở quê ông, khiến nghề in nơi đây trở nên phát triển. Chính vì lẽ đó, ông đã được coi là ông tổ sáng lập ra nghề in ở Việt Nam

8ong-to-nganh-in-van-go

Tuy nhiên, trên thực tế thì nghề in an ở Việt Nam đã có từ lâu đời, ít ra là đã xuất hiện từ đời Nhà Lý. Sách Thiền uyển tập anh ngữ lục chép: “Thiền sư Trí Học họ Tô, người làng Chu Minh phủ Thiên Đức vốn làm nghề khắc bản in kinh. Ông mất ngày năm , vào đời. Hay như đời vua Trần Anh Tông cho in các sách Phật giáo pháp sư, Đạo trường tân văn, Công văn cách thức để ban bố cho dân chúng biết. Đến đời Hồ Quý Ly (1400 – 1401) còn cho in an tiền giấy và phát hành rộng rãi, cho thấy kĩ thuật in ấn đã đạt đến trình độ cao. Chính vì thế việc coi Lương Như Hộc là người đầu tiên truyền bá nghề in vào Việt Nam là không đúng. Cũng có thể ông đã dạy dân những cải tiến quan trọng trong nghề in ấn, giúp nó được phổ biến..

Mặc dù nghề in ấn đã có trước đó, nhưng nó chỉ lưu hành trong phạm vi Phật giáo và quản lý nhà nước. Nhờ có sự truyền dạy của ông, làng Liễu Tràng – Hồng Lục đã trở thành trung tâm khắc ván in chữ và sau là tranh khắc của cả nước. Nhiều bộ sách đã được in khắc ở đây, trong đó phải kể đến bộ Đại Việt sử ký toàn thư đồ sộ đã được những người thợ làng Hồng Lục, Liễu Tràng khắc đầy đủ lần đầu tiên vào năm Chính Hòa thứ 18. Để ghi nhận công lao, dân làng Liễu Tràng đã lập đền thờ, tôn ông làm Thành hoàng và coi là tổ nghề của họ. Hiện nay vẫn còn ngôi đình thờ Thám hoa ở làng Liễu Tràng, đã được xếp hạng năm 1992, thường tổ chức lễ hội vào ngày 13-15 tháng 9 (âm lịch) hàng năm.

Đầu thế kỷ 20, những nghệ nhân của làng Liễu Tràng đã tham gia khắc in bộ tranh dân gian gồm 4.577 bức, nhan đề Kĩ thuật của người An Nam do Henri Oger, một người Pháp, tổ chức. Ngoài vẽ về các nghề dân gian và đời sống hàng ngày của người Việt Nam, bộ tranh còn có hình các nhân vật lịch sử như Lương Như Hộc và Kỳ Đồng. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng lại bị đặt sai tên là Lương Nhữ Học.

Theo vlhanoi

Ngành in Việt Nam: Đầu tư hay thu hẹp?

Đứng trước sự biến động phi mã của chi phí đầu vào và lãi suất ngân hàng, các doanh nghiệp in Việt Nam đang chịu áp lực lớn của thị trường. Đầu tư, dừng lại hay thu hẹp quy mô sản xuất đang là bài toán trăn trở đối với các doanh nghiệp in hiện nay, công nghệ lạc hậu. Sự tăng trưởng quá nhanh về số lượng doanh nghiệp in thời gian qua cũng tạo nên sức ép trong ngành, cung tăng nhanh hơn cầu dẫn đến sự cạnh tranh giữa nội bộ các doanh nghiệp in trong nước, sự cạnh tranh với các doanh nghiệp in có vốn đầu tư nước ngoài. Sản xuất của các doanh nghiệp in đang gặp nhiều khó khăn, hiệu quả kinh doanh thấp, đời sống lao động ngành in giảm sút. Một số khách hàng được lợi từ sự mất cân đối này, đã chiếm dụng vốn hoặc ép giá công in. Qua tìm hiểu tại Hội in Hà Nội, giá công in không tăng, có khách hàng là con nợ khó đòi của nhiều doanh nghiệp in, có việc mà thêm mắc nợ thì doanh nghiệp khó trụ lại trong tình hình lạm phát hiện nay.

7Congnhanin 02

Tôi đọc và tâm đắc bài viết “thiêu vốn mà chẳng giám vay” của nhóm tác giả Trần Khâm, Quốc Thắng, Băng Châu, Kiều Hương, Ngọc Quân đăng trên báo Nhân dân ngày 26 tháng 6 năm 2008. Những giải pháp mà các doanh nghiệp kiến nghị là phù hợp mà cần được cấp có thẩm quyền xem xét. Cơ thể mạnh khi các tế bào mạnh và dồi dào sức sống mà mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế.

Trở lại nội dung cần trao đổi, tiếp tục đầu tư hay thu hẹp quy mô của các doanh nghiệp in hiện nay? Bài viết chỉ mang tính gợi mở nhằm giúp cho các đồng nghiệp nghiên cứu thêm, tiếp tục tham gia diễn đàn vì sự phát triển chung của ngành và từng doanh nghiệp.

Ngành in Việt Nam trong tiến trình hội nhập, công nghệ in phải đạt trình độ quốc tế, đội ngũ lao động phải được đào tạo chuyên nghiệp. Đó là mục tiêu và hướng đầu tư ngành in cần duy trì và không ngắt đoạn. Tại hội chợ DRUPA 2008, hội chợ ngành in lớn nhất hành tinh diễn ra tại CHLB Đức, hơn 100 doanh nghiệp in Việt nam tham gia, thể hiện sự quan tâm của các doanh nghiệp in nhằm tìm hiểu và đón bắt công nghệ in tiên tiến trên thế giới. Xu hướng chất lượng và tốc độ bao trùm hội chợ, công nghệ in đạt trình độ tự động hoá cao. Do vậy, muốn đáp ứng thị trường in cao cấp, với số lượng lớn, thời gian nhanh cần có bài toán đầu tư dài hạn. Nếu dừng lại ở công nghệ cũ, năng suất thấp, chất lượng không đáp ứng thì thị trường in cao cấp tại Việt nam là cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài. Nhu cầu đầu tư thì cần, dừng đầu tư thì doanh nghiệp tụt hậu, nhưng nếu dùng nguồn vốn vay ngân hàng hiện nay thì phương án thu hồi vốn gặp khó khăn. Những doanh nghiệp có vốn tự có đủ nhu cầu đầu tư thì căn cứ thị trường nên duy trì tiến độ đầu tư cùng với việc nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp in quy mô vừa và nhỏ cần xem xét lại thị trường, rà xét hạn mục đầu tư, nên đầu tư theo hướng chuyên môn hoá. Trong lúc khó khăn về vốn, lãi suất ngân hàng trên 20% thì đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp sẽ khó khăn và khó thu hồi vốn. Bài toán các doanh nghiệp đang áp dụng là co cụm, rà xét chi phí, tăng cường đào tạo nội bộ, giữ vững thị trường truyền thống nhằm giảm bớt sức ép trong cán cân thanh toán. Tăng cường liên kết trong Hiệp hội in, giảm cạnh tranh bằng phá giá công in, giảm nợ khó đòi. Khắc phục bài toán đầu tư giai đoạn này, liên doanh liên kết và chuyên môn hoá là hướng nhằm tháo gỡ khó khăn cho từng doanh nghiệp và khai thác triệt để lợi thế của mỗi doanh nghiệp.

Bài toán đầu tư và hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp in lúc này cần có các giải pháp vĩ mô, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp in ổn định sản xuất. Giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn bằng cách miễn giảm thuế giấy nhập khẩu để các doanh nghiệp in giảm chi phí đầu vào, chủ động vật tư với các đơn hàng dài hạn. Nhà nước tiếp tục có chính sách cho vay ưu đãi với các dự án đầu tư chiều sâu, in gia công xuất khẩu.

Theo vlhanoi

Công nghệ nano – cơ hội mới cho công nghiệp mực in

Dự án Nanocure là dự án nghiên cứu các kiến thức ứng dụng nhằm nâng cao giá trị sản phẩm cho ngành công nghiệp in bằng phương pháp nano đặc biệt. Đây là lý do tại sao ManRoland thực hiện nhiều hoạt động khác nhau trong việc nghiên cứu dự án liên quan đến công nghệ nano.

Một trong những điểm chính ở đây là Dự án Nanocure (BMF Fkz 13 N 9115) mà ManRoland cùng với các công ty đối tác đang nghiên cứu là xúc tiến các ứng dụng công nghệ nano trong lĩnh vực in ấn. Công nghệ nano đã trở thành chìa khoá cho tương lai ngành in nói chung và mực in nói riêng, không chỉ ở châu Âu mà tất cả mọi nơi trên thế giới. Nếu ngành in vươn ra khỏi được bức tường thành cố hữu của nó, đặc biệt trong lĩnh vực như điện tử, ngành in sẽ gặt hái nhiều thành công hơn trong việc sử dụng các hạt và vật liệu cỡ nano trong mực in.

“Công nghệ nano không còn mới mẻ nữa” – Barry Park, giám đốc sản xuất tại Mạng trao đổi công nghệ Nano (Nanotechnology Knowledge Transfer Network) – được tài trợ bởi chính phủ Anh, phát biểu tại một hội nghị gần đây ở Luân Đôn. “Công nghệ này cũng cung cấp những nền tảng cơ bản cho nhiều sản phẩm mới đầy thú vị, các nhà quan sát công nghiệp dự báo doanh thu sản phẩm dựa trên công nghệ nano sẽ là hàng tỉ tỉ đô la vào năm 2015” – ông cho biết thêm. Ngành in được đặt ở vị trí tốt để có thể hưởng lợi từ sự tăng trưởng ồ ạt trong doanh thu của ngành công nghệ nano, bởi lẽ phạm vi của ngành in là ứng dụng công nghệ vào các nguyên vật liệu có kích cỡ nano với một lượng lớn và giá thành thấp như mực in và tráng phủ trên các bề mặt nền khác nhau.
Hiện tại, hầu hết các loại vật liệu sử dụng để làm nguyên vật liệu kích cỡ nano như: cacbon, bạc, sắt, titan oxit, nhôm oxit, xeri oxit, kẽm oxit, silica, silicon oxit, đenđrime, và bao gồm cả nano clay trong công thức mực in và tráng phủ, mặc dù không nhất thiết phải có hiệu quả tức thời. Tuy nhiên, công nghệ nano trong ngành in cũng như trong các lĩnh vực khác, đang vấp phải những thử thách vô cùng khó khăn. Lớn nhất phải kể đến là các mối quan ngại về sức khoẻ và an toàn, đặc biệt là ở châu Âu nơi các nhà làm luật và các nhà lãnh đạo đã có những động thái không tốt về vật liệu nano. “Hiện nay các thông tin an toàn về vật liệu nano là chưa thật đầy đủ” – Steve Hankin, tư vấn viên cấp cao của Viện sức khoẻ nghề nghiệp của Edinburgh, phát biểu tại hội nghị Luân Đôn – tài trợ bởi chính phủ Anh và Hiệp hội công nghiệp hoá chất. “ Có nhiều kẽ hở kiến thức quan trọng về khoa học chất độc, các tính chất hoá lý và các dữ liệu được đưa ra” – ông nói. Điều này tạo ra những đánh giá mạo hiểm và khó khăn trong việc quản lý vật liệu nano.

Kết quả là, nhiều công ty ở châu Âu quả quyết rằng các nhà cung cấp đã thông tin cho họ về sự hiện diện của các thành phần nano trong sản phẩm của họ, đặc biệt là trong bao bì. Thêm nữa, về vấn đề an toàn, một rào cản lớn khác đó là việc tăng giá các nghiên cứu và phát triển về vật liệu nano và các ứng dụng của chúng. Việc này giờ đây đòi hỏi một đội ngũ nghiên cứu có bằng cấp cao và các thiết bị đắt tiền. Để theo kịp bước phát triển đó, các công ty nhỏ cụ thể là các công ty đang cần vốn đầu tư đang rất lo lắng về vấn đề này.

“Kỹ thuật đang đi từ chỗ yêu cầu các giải pháp và vật liệu đơn giản đến chỗ đòi hỏi các công nghệ phức hợp” Paul Reip – nhà sáng lập và là giám đốc Intrinsiq, công ty SME của Anh chuyên phát triển mực in nano cho in mạch điện tử.

6cong-nghe-nano-2

Một sự kết hợp giữa việc cần thiết tuân thủ nghiêm ngặt về sức khoẻ và an toàn trong sản xuất hạt và vật liệu nano với giá cả nghiên cứu phát triển tăng cao đang làm cho công nghệ nano nằm ngoài khả năng của các công ty sản xuất mực in. Ngay cả nhiều công ty lớn trong thị trường mực in cũng không đủ phí chi cho việc đầu tư thành lập một đội ngũ chuyên gia về lĩnh vực này ngay tại công ty. Do đó thay vì hợp tác với các chuyên gia về công nghệ nano, một trong số họ hưởng lợi từ các trường đại học và các viện nghiên cứu ở châu Âu, đã mở rộng sang lĩnh vực in bằng cách tự sản xuất mực của họ hoặc cung cấp các chất phân tán hạt nano – những chất chiếm phần lớn trong thành phần của mực.

Trong nhiều thập kỷ, các nhà sản xuất mực đã và đang sử dụng quy trình nghiền mực để sản xuất các hạt pigment cỡ nano để cải tiến khả năng gia công của chúng và chất lượng màu trong công thức mực. Công nghệ nano được ứng dụng vào tráng phủ truyền thống để đạt được các tính chất như chống xước đang được giới thiệu cho các loại tráng phủ trong in như các vecni. Mực với các hạt và cấu trúc nano có thể được sử dụng trong hầu hết các quy trình in, đặc biệt là sự xuất hiện của printed electronics ( in mạch điện tử) ứng dụng bởi nhiều thiết bị in.

Vật liệu nano đang được in trên nhiều bề mặt để làm nhãn và thẻ treo (tags) RFID, màn hình phát sáng sử dụng diode phát sáng hữu cơ ( OLEDs), bản pin dẻo, sensor và pin năng lượng mặt trời. Một trong những ứng dụng lớn nhất của công nghệ nano trong in là mực in phun, bởi vì yêu cầu có các hạt cực nhỏ trong công thức của chúng, đặc biệt là thuốc nhuộm và pigment. “In phun phát triển đi đôi với công nghệ nano” Kay Yeong, nhà khoa học tại Xenia, người phát triển thiết bị và hệ thống mực in phun, phát biểu trong một cuộc họp ở Anh về vật liệu nano tổ chức bởi NanoCentral – một cơ quan phát triển công nghệ của chính phủ Anh. “Mặt tích cực của việc phát triển vật liệu nano là để bổ sung hoàn chỉnh cho sự chín muồi của công nghệ in phun”.

Những ví dụ về vật liệu nano và micro được in phun hiện nay đã mở rộng ra tới crôm quang và crôm điện với những hiệu ứng khả kiến (nhìn thấy được) như các tín hiệu, chất kháng khuẩn, chất chậm cháy, kim loại và graphite dẫn điện, vật liệu từ, enzyme và các vật liệu sinh học khác kể cả tinh thể lỏng.

Vật liệu nano truyền thống và mực in phun ngày càng được sử dụng trong in bảo mật, nhãn bảo vệ, và với mục đích chống hàng giả – đây là một trong những thị trường chính của công nghệ nano trong in ấn.

Derek Illsley, nhà khoa học đầu ngành của Sun Chemical ở Anh, cung cấp chi tiết tại hội nghị NanoCentral về các nanocomposite bị bong tróc của silicate trong dung dịch polymer có thể được in như lớp phủ bảo vệ cho các sản phẩm như thực phẩm. Công ty phát biểu rằng nó có mức độ thấm khí oxy thấp hơn so với bao bì sử dụng vật liệu cản khí thông thường.

“Lớp coating composite cản oxy có thể phủ lên bao bì bảo vệ với tính chất cản khí tuyệt vời”, ông Illsley nói. “Các lớp phủ có thể sử dụng bởi các phương pháp in truyền thống”.

Các nhà cung cấp và phát triển các công nghệ nano có khả năng in châu Âu đang tăng cường giám sát các động thái từ phía các nhà lãnh đạo các cấp độ trong nước và châu lục. Một vấn đề đối với các nhà làm luật là thiếu một định nghĩa rõ ràng về sự khác nhau giữa vật liệu nano sản xuất nhân tạo với các hạt nano từ thiên nhiên xung quanh.

Theo vlhanoi